1
18:48 ICT Chủ nhật, 11/12/2016

mua lan su rong

TIN TỨC

GIỚI THIỆU

Trang chủ » Tin môi trường » Biến đổi khí hậu

Quy hoạch phục hồi và phát triển rừng ngập mặn tỉnh Tiền Giang nhằm bảo vệ hệ sinh thái ven biển gắn với ứng phó biến đổi khí hậu

Thứ sáu - 05/08/2016 10:08
Tiền Giang là tỉnh ven biển Đồng bằng sông Cửu Long có khả năng chịu tác động nghiêm trọng do hậu quả của biến đổi khí hậu. Bài báo tóm tắt về các kết quả nghiên cứu quy hoạch môi trường của tỉnh, trong đó có quy hoạch bảo tồn đa dạng sinh học do các tác giả thực hiện và nêu giá trị của rừng ngập mặn trong ngăn ngừa tác động do biến đổi khí hậu. Nghiên cứu này cũng đã đề xuất các định hướng quy hoạch phát triển hệ sinh thái ven biển tỉnh Tiền Giang nhằm ngăn ngừa biến đổi khí hậu gắn kết bảo tồn và phát triển đa dạng sinh  học.

1.    MỞ ĐẦU

Tỉnh Tiền Giang nằm trong vùng đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL), có tọa độ 105050’–106045’ độ kinh Đông và 10035’-10012’ độ vĩ Bắc. Tiền Giang nằm dọc bờ trái sông Tiền với chiều dài 120km, tiếp giáp Long An và TP. Hồ Chí Minh về phía Bắc và Đông Bắc, giáp Đồng Tháp về phía Tây, giáp Bến Tre và Vĩnh Long về phía Nam, giáp biển Đông về phía Đông.
 Tỉnh có diện tích tự nhiên 2.508,3 km2, chiếm khoảng 6% diện tích ĐBSCL, dân số
1.720.000 (năm 2014), gồm các đơn vị hành chính: thành phố Mỹ Tho, thị xã Gò Công, thị  xã Cai Lậy, các huyện Cái Bè, Tân Phước, Châu Thành, Chợ Gạo, Gò Công Tây, Gò Công Đông và Tân Phú Đông, trải dài theo chiều Tây - Đông (hình  1).
            

                                                  Hình 1. Sơ đồ các đơn vị hành chính tỉnh Tiền Giang

Nguồn: VESDEC, 2014, Báo cáo Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

Trước giải phóng, Tiền Giang là tỉnh vốn có các vùng sinh thái đất ngập nước rộng lớn với hệ sinh thái rừng tràm ở các huyện Tân Phước trong Đồng Tháp Mười và rừng ngập mặn ven biển các huyện Gò CôngĐông, Tân Phú Đông. Tuy nhiên trong các năm 1980 -1990 một diện tích lớn rừng tràm và rừng ngập mặn bị chặt phá để lấy đất làm nông nghiệp (ở Tân Phước) hoặc nuôi trồng thủy sản (ở các huyện ven biển). Hậu quả của việc suy giảm diện tích và chất lượng rừng ngập nước không chỉ làm suy giảm tính đa dạng sinh học mà còn gây tác động lớn đến môi trường: gia tăng quá trình axit hóa đất và nước ở vùng Đồng Tháp Mười,   gia tăng xói lở, ô nhiễm nước ven bờ ở vùng ven biển. Đặc biệt với tác động do sóng, gió  trong khi giải rừng ven biển bị tàn phá quá trình sạt lở bờ biển ngày càng nghiêm trọng, tác động lớn đến các công trình, sản xuất và đời sống nhân dân ven biển. Vì vậy công tác quy hoạch phục hồi rừng ngập mặn ven biển ứng phó với biến đổi khí hậu (BĐKH) đã trở thành nhiệm vụ cấp bách của tỉnh. Đây là lý do Dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” được UBND tỉnh Tiền Giang xem là  một  trong các dự án quan trọng nhất trong các chương trình bảo vệ môi trường, ứng phó BĐKH  của tỉnh. Dự án do Sở Tài nguyên và Môi trường là chủ đầu tư, Viện Khoa học môi trường và Phát triển (VESDEC) là đơn vị thực hiện nghiên cứu, PGSTS Lê Trình làm chủ  nhiệm.
           

                                               Hình 2: Bản đồ thổ nhưỡng tỉnh Tiền Giang

Nguồn: VESDEC, 2014, Báo cáo Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030.

2.   TÓM TĂT KẾT QỦA NGHIÊN CỨU PHÂN VÙNG MÔI TRƯỜNG TỈNH TIỀN GIANG

Trong dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030”[1] Đặng Trung Thuận và Lê Trình đã phân chia toàn bộ diệ tích tỉnh thành   các vùng, tiểu vùng và á tiểu vùng chức năng môi trường theo nguyên tắc tổ hợp các yếu tố: môi trường vật lý (địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, chế độ thủy văn, chất lượng nước) + đặc điểm môi trường sinh học, các hệ sinh thái + đặc điểm kinh tế - xã hội. Trên cơ sở tổ hợp này lãnh thổ tỉnh Tiền Giang được phân chia thành 3 đơn vị quy mô cấp vùng: Vùng I (phía Tây), Vùng II (Trung tâm), Vùng III (phía Đông) và 1 đơn vị đặc thù: Vùng hành lang xanh ven    các sông lớn.
 
Ranh giới giữa vùng chức năng môi trường I và vùng II là đường biên hành chính phía Tây của huyện Châu Thành. Ranh giới giữa vùng chức năng môi trường II và vùng III là ranh giới tự nhiên dọc theo kênh Chợ Gạo, vì chính dòng kênh này đã chia đôi huyện Chợ Gạo thành 2 phần Tây và Đông, khác nhau về mức độ nhiễm mặn và ngập lũ nước ngọt, dẫn đến   sự khác nhau về các hệ sinh thái tự nhiên, sử dụng đất và bảo vệ môi trường.  Các yếu tố   mang tính trội đặc trưng, ví dụ đặc điểm thổ nhưỡng, mức độ đô thị hóa - công nghiệp hóa, chất lượng môi trường nước ... được lựa chọn làm căn cứ để phân chia các đơn vị cấp tiểu vùng. Các yếu tố bổ trợ khác, bao gồm cả quản lý hành chính, được lựa chọn bổ sung để phân chia các đơn vị nhỏ, cấp á tiểu vùng, tùy thuộc mức độ phức tạp, tính không đồng nhất của tiểu vùng, ví dụ: Á tiểu vùng đất phèn Tân Phước, Á tiểu vùng đất phèn Cai Lậy v.v...Chỉ có 4/14 tiểu vùng được chia ra các á tiểu vùng.
 
Theo phương thức nêu trên, kết quả vùng I được chia ra 4 tiểu vùng, được  ký hiệu từ I.1 đến I.4 với 9 á tiểu vùng, được ký hiệu từ I.1a đến I.3b; Vùng II được chia ra 4 tiểu vùng, được ký hiệu từ II.1 đến II.4, không có á tiểu vùng; Vùng III được chia ra 6 tiểu vùng, được  ký hiệu từ III.1 đến III.6 với 2 á tiểu vùng, được ký hiệu từ III.5a đến III.5b; Dải hành lang xanh IV được chia ra 2 hành lang, ký hiệu từ IV.1 đến IV.2. Mỗi tiểu vùng có tên riêng, kèm theo địa danh đặc trưng và ký hiệu chữ và số, ví dụ: Tiểu vùng Đất phèn Đồng Tháp Mười 
(TV. I.1). Mỗi á tiểu vùng cũng có tên riêng, kèm theo địa danh đặc trưng, ký hiệu số và chữ, ví dụ: Á tiểu vùng Đất phèn Tân Phước (ATV. I.1c). Như vậy, trên địa bàn tỉnh Tiền Giang đã phân chia ra 3 vùng, 14 tiểu vùng với 11 á tiểu vùng, cùng 2 hành lang môi trường xanh. Kết quả phân vùng được trình bày trong bảng sau.

                                Bảng: Kết quả phân vùng chức năng môi trường tỉnh Tiền  Giang

Vùng Tiểu vùng Á tiểu vùng Ký hiệu
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
 
I. Vùng Phía Tây
 
 
 
 
 
I.1. Đất phèn Đồng Tháp Mười
(a)  Đất phèn huyện Cái Bè ATV. I.1a
(b)  Đất phèn Cai Lậy ATV. I.1b
(c)  Đất phèn Tân Phước ATV. I.1c
(d) Đất phèn Châu Thành ATV. I.1d
(e)  Khu BTST Thạnh Tân ATV. I.1e
 
 
I.2. Đất phù sa ngọt
(a)  Đất phù sa Cái Bè ATV. I.2a
(b)  Đất phù sa Cai Lậy ATV. I.2b
 
 
I.3. Đất cao ven s. Tiền
(a)  Đất cát giồng Cái Bè ATV. I.3a
(b)  Đất cát giồng Cai Lậy ATV. I.3b
I.4. Đô thị - CN Cai Lậy --- TV.I.4
II. Vùng Trung tâm II.1. Đất phù sa Châu Thành --- TV.II.1
II.2. Nước ngọt Bảo Định --- TV.II.2
  II.3. Đất giồng Châu Thành --- TV.II.3
II.4. Đô thị - CN Mỹ Tho --- TV.II.4
 
 
 
 
 
 
 
 
 
III. Vùng phía Đông
III.1. Đất phù sa nhiễm mặn --- TV.III.1
III.2. Đô thị- CN Gò Công --- TV.III.2
III.3. Đất giồng Gò Công --- TV.III.3
III.4. Đất mặn Gò Công --- TV.III.4
 
 
III.5. Đới bờ Tiền Giang
(a) Đất ngập nước Gò Công ATV.III.5a
(b) Biển ven bờ Tiền Giang ATV.III.5b
III.6. Cù Lao Tân Phú Đông --- TV.III.6
IV. Dải hành lang xanh
môi trường
IV.1 Hành lang xanh s. Tiền --- HL.IV.1
 
IV.2 Hành lang xanh s.
 
Gò Công
 
 
---
 
 
HL.IV.2
Nguồn: Đặng Trung Thuận, Lê Trình, 2013 [1]

Bản đồ phân vùng chức năng môi trường tỉnh Tiền Giang (hình 3) được thành lập dựa trên kết quả phân vùng trình bày trong bảng trên, thể hiện trên nền bản đồ địa hình tỷ lệ 1:50.000, trong đó bằng ký hiệu đường kẽ sọc để thể hiện các đơn vị cấp vùng: Vùng phía   Tây (Vùng I) thể hiện bằng đường sọc hướng Tây Nam – Đông Bắc; Vùng Trung   tâm (Vùng II) thể hiện bằng đường sọc hướng Nam – Bắc; Vùng phía Đông (Vùng III) thể hiện bằng đường sọc hướng Đông Nam – Tây Bắc. Mỗi tiểu vùng trong một vùng được thể hiện bằng một màu cơ bản và đậm; Các á tiểu vùng có cùng màu của vùng, nhưng với sắc khác nhau, kèm theo ký hiệu bằng chữ và số, ví dụ Tiểu vùng Đất phèn Đồng Tháp Mười (TV.I.1) màu nâu đỏ đậm; Á tiểu vùng Đất phèn huyện Tân Phước (ATV. I.1c) màu nâu đỏ nhạt. Tiểu    vùng Đất mặn Gò Công (TV.III.4) – màu tím đậm v.v... Tiểu vùng đô thị - công nghiệp Cai Lậy (TV.I.4) được làm nổi bật bằng màu đỏ, nhằm cảnh báo nguy cơ ô nhiễm môi trường. Hành lang môi trường xanh Mỹ Tho (HLMT. IV.1) được thể hiện bằng màu xanh lá cây với dụng ý khuyến khích cộng đồng xây dựng và bảo vệ môi trường xanh, trong  lành.

     

                                                          Hình 3: Bản đồ phân vùng môi trường tỉnh Tiền Giang

Nguồn: Đặng Trung Thuận, Lê Trình, 2013 [1]

3.    HIỆN TRẠNG HỆ SINH THÁI ĐẤT NGẬP MẶN VEN BIỂN TỈNH TIỀN GIANG VÀ VAI TRÒ ỨNG PHÓ HẬU QUẢ CỦA BIẾN ĐỔI KHÍ  HẬU

3.1.  Khái quát về các hệ sinh thái đất ngập mặn ven biển Tiền  Giang

Các hệ sinh thái đất ngập mặn ven biển Tiền Giang nằm trên diện tích 2 tiểu vùng  môi trường III.5: Đới bờ Tiền Giang và III.6: cù lao Tân Phú Đông thuộc Vùng môi trường phía Đông của tỉnh theo Hệ thống phân vùng môi trường đã nêu ở bảngtrên. Hệ sinh thái đất ngập mặn ven biển tỉnh Tiền Giang được giới hạn từ khu vực ngoài đê sông, đê biển từ nơi  hợp lưu sông Trà – sông Vàm Cỏ, cửa sông Soài Rạp; ven biển từ Gia Thuận Vàm Láng –   Tân Điền – Tân Thành – Phú Tân và khu vực Cửa Tiểu, Cửa  Đại.
Hai tiểu vùng này thuộc các huyện Gò Công Đông, Tân Phú Đôngvới bờ biển dài 32 km nằm kẹp giữa các cửa sông lớn là Soài Rạp (sông Vàm Cỏ) và cửa Đại (sông Tiền). Khu vực ven biển được phù sa bồi đắp quanh năm, hiện quá trình bồi đắp đang góp phần hình  thành các cù lao ven biển.Trong vùng sinh thái này có nhiều kiểu đất ngập nước mặn ven  biển, phân bố dọc theo vùng ven biển. Theo đặc trưng về thủy văn có đất ngập nước mặn ven biển - ngập thường xuyên và đất ngập nước mặn ven biển- ngập không thường xuyên. Đất  ngập nước mặn  ven biển - ngập thường xuyên phân bố ở vùng biển nông có độ ngập thủy  triều 6m. Đất ngập nước mặn ven biển- ngập không thường xuyên phân bố ở dải đất liền ven biển ở các huyện Gò Công Đông và Tân Phú Đông.
Theo các thông tin nghiên cứu được tổng kết trong các tài liệu [2,3]hệ thực vật tự nhiên hoang dại, không kể nhóm du nhập, cây trồng trong vùng cửa sông ven biển thuộc tỉnh Tiền Giang có trên 409 loài, chiếm 44% tổng số loài trong 924 loài thực vật bậc cao trong   tỉnh Tiền Giang, và chiếm 92% số loài hệ thực vật tự nhiên hoang dại trên địa bàn tỉnh. Tuy nhiên, nếu chỉ tính riêng cho  các khu vực đất ngập nước mặn, nước lợ vùng cửa sông ven   biển thì có khoảng 62 loài đại diện ưu thế và loài chỉ thị của hệ sinh thái nước mặn; chiếm  15% trong tổng số loài của vùng cửa sông ven biển. Trong danh lục thực vật có 3 loài trong Sách Đỏ Việt Nam 2007 và 1 loài trong danh sách IUCN.
Ở hệ sinh thái này, các dải bần, ven sông từ sông Trà – bến phà Mỹ Lợi, từ Đèn Đỏ - bến phà Tân Long, từ Cửa Đại địa giới xã Phú Thạnh, Tân Phú hiện đang được bảo vệ khá    tốt góp phần chống xói lở bờ sông.
Dải rừng ngập mặn Gia Thuận – Tân Thành được phục hồi sau chiến tranh rồi bị chặt phá do nhu cầu đời sống của cư dân địa phương vào những năm 1986 – 1995, nay đang dần được khôi phục. Tuy nhiên khu vực xã Tân Điền rừng bị phá trắng đang chịu áp lực lớn từ sóng gió đánh thẳng vào bờ biển gây xói lở.
Trên phần đất ngập mặn đang diễn ra các hoạt động nuôi tôm, theo hình thức bán thâm canh và quảng canh cải tiến. Đối tượng nuôi là tôm sú và tôm thẻ chân trắng. Trên bãi bồi cát – bùn ven biển xã Tân Thành, cồn Ngang xã Phú Tân nuôi nghêu lụa (Meretrix  lyrata).


3.2. Chi tiết về các hệ sinh thái ở các tiểu vùng môi trường ven  biển

 3.2.1.Tiểu vùng III.3

 Tiểu vùng bao gồm phần ven biển ngoài đê thuộc huyện Gò Công Đông, chiếm khoảng 7,1% diện tích toàn tỉnh, có 8-12 tháng/năm chịu ảnh hưởng lợ mặn, đất đai chủ yếu là đất  mặn nhiều. Các xã trong tiểu vùng là Vàm Láng và một phần các xã Tân Phước, Gia Thuận, Kiểng Phước, Phước Trung, Tăng Hòa, Tân Thành.
Tiểu vùng này có thể xem là vùng sinh thái nước mặn vùng ven biển, chịu ảnh hưởng của nhiễm mặn 8 – 12 tháng/năm, nên hệ thực vật tự nhiên phổ biến bao gồm hầu hết các loài thuộc danh sách nhóm A.
-   Hệ thực vật rừng ngập mặn chủ yếu gồm: đước đôi (Rhizophoraapiculata), đưng (Rhizophora mucronata), mắm đen (Avicennia officinalis), mướp  sác  (Cerbera  manghas), cóc trắng (Lumnitzeraracemosa), dây lõa hùng (Gymnanthera nitida), rau mui (Wedelia biflora)...
-   Hành lang thực vật hai bên sông, kênh rạch chủ yếu gồm: dừa nước (Nypafruicans), bần trắng (Sonneratia alba), bần chua (Sonneratia caseolaris), dước đôi (Rhizophoraapiculata), dây lõa hùng (Gymnanthera nitida), rau mui (Wedelia biflora), mắm đen (Avicennia officinalis), mướp sác (Cerbera manghas), cóc trắng  (Lumnitzeraracemosa)...
-   Hệ thực vật ven bờ biển gồm: phi lao (Casuarina equisetifolia), chà là (Phoenix paludosa), dứa gai (Pandanuskaida).
Hệ thực vật đi cùng với cây lúa gồm: lồng vực (Echinochloa crusgalli), rau mương (Ludwidgia hyssopifolia), rau mương đứng (Ludwidgia octovalis).


3.2.2.Tiểu vùng III.4

Tiểu vùng này bao gồm toàn bộ các xã của huyện Tân Phú Đông, chiếm khoảng 8,2% diện tích toàn tỉnh, có 6-12 tháng/năm chịu ảnh hưởng lợ mặn, đất đai chủ yếu là đất mặn từ trung bình đến nhiều.
Tiểu vùng này có thể xem là vùng sinh thái nước mặn vùng cửa sông ven biển, chịu    ảnh hưởng của nhiễm mặn 6 – 12 tháng/năm, nên hệ thực vật tự nhiên phổ biến bao gồm hầu hết các loài thuộc danh sách nhóm A.
-   Hành lang thực vật hai bên sông, kênh rạch chủ yếu gồm:dừa nước, bần trắng, bần chua,
đước đôi, bình bát dây lõa hùng , mắm đen, ráng đại, cỏ  lức,...
-    Hệ thực vật ven bờ biển gồm: phi lao (Casuarina equisetifolia), rau sam (Portulaca oleracea), chà là (Phoenix paludosa), dứa gai (Pandanuskaida), tra bồ đề  (Thespesiapopulnea),
-    Hệ thực vật đi cùng với cây lúa gồm: lồng vực (Echinochloa crus-galli), rau mương (Ludwidgia hyssopifolia), rau mương đứng (Ludwidgia octovalis); Hệ thực vật đi cùng với 
cây nông nghiệp ngắn ngày trên đất cát giồng gồm các  đại  diện:cú  ma (Cyperuspolystachyos), cỏ chao (Cyperus difformis), cú dẹp (Cyperus compressus), cỏ lức (Pluchea indica), mao thư sét (Fimbristylis  ferruginea),.
-   Hệ thực vật du nhập gây trồng trong vườn nhà chủ yếu gồm các giống cây ăn  trái như:  mảng cầu xiêm (Annona muricata), mít (Artocarpus heterophyllus), xoài (Mangifera indica), nhãn (Dimocarpus longan), dừa (Cocos nucifera), chuối sứ  (Musaparadisiaca).

3.2.3.Động vật hoang dã trong rừng ngập mặn

Vùng rừng ngập mặn ven biển Tiền Giang vốn có diện tích trên 1.500 ha vào năm 1990 nay chỉ còn khoảng 500 ha, chủ yếu ở Gò Công Đông và Tân Phú Đông. Trước đây các giải rừng ngập mặn này là nơi cư trú của nhiều loại chim nước: diệc xám(Ardeacinerea), diệc lửa (Ardea purpurea), vạc (Nycticorax nycticorax), cò trắng (Egrettagarzetta), hạc, cốc, bồ nông..., các loài bò sát: rắn lục (Trimeresurus popeorum),  rắn hổ đước (Naja atra); các loài   có vú: rái cá (Lutra lutra),  khỉ đuôi dài (Macaca fascicularis) ...Hiện nay ngoài các loài   chim, các loài động vật có vú và bò sát nêu trên hiếm khi xuất  hiện.

3.3.Vai trò của rừng ngập mặn ven biển Tiền Giang trong ngăn ngừa hậu quả biến đổi khí hậu

Các biểu hiện chính về hậu quả BĐKH ở Tiền Giang là mực nước biển sẽ dâng cao, gây sóng lớn, gây xâm nhập mặn, xói lở bờ biển, vùng của sông, dẫn tới tác động xấu đến các hệ sinh thái ven biển, làm hư hại các công trình đê biển, các khu dân cư, sản xuất nông  nghiệp, cấp nước sinh hoạt ở các huyện Gò Công Đông, Tân Phú Đông. Trong các năm 1980 đến 1995 rừng ngập mặn ven biển bị xâm hại để lấy đất nuôi tôm, xây dựng cảng, khu dân   cư. Rừng ngập mặn Tiền Giang với các loài thực vật thân gỗ (đước, mắm, bần) vốn khá dày đặc (hình 3, trái) nay nhiều nơi chỉ còn là cây bụi, dừa nước...không có khả năng bảo vệ bờ biển ngăn cản sóng lớn.

    

Hình 3: Dải rừng ngập mặn còn sót lại ngoài đê biển xã Kiểng Phước-Gò Công Đông  (trái); Mở rộng diện tích nuôi tôm vào  đất rừng: 1  trong các nguyên nhân  phá hại  hệ  sinh thái rừng ngập mặn ven biển Tiền Giang (phải)Ảnh: Lê Trình, 4/2013

Hậu quả mất rừng ngập mặn là nhiều đoạn để biển Gò Công bị hư hại do sóng; bờ biển  bị xói lở, một phần diện tích bị sóng cuốn trôi (hình 4).

      

Hình 4: Do mất rừng, công trình đê biển Tiền Giang bị tổn hại do sóng (trái); Rừng ngập mặn vốn rất phát triển ở xã Phú Tân – huyện Tân Phú Đông nay đã bị phá trắng, dẫn đến xói lở bờ biển nghiêm trọng (phải).Ảnh: Lê Trình, 6/2013.


4. ĐỊNH HƯỚNG QUY HOẠCH PHỤC HỒI VÀ PHÁT TRIỂN CÁC HỆ SINH THÁI TỰ NHIÊN VÙNG VEN BIỂN TIỀN GIANG GẮN KẾT ỨNG PHÓ BIẾN ĐỔI KHÍ HẬU VÀ BẢO TỒN ĐA DẠNG SINH HỌC

4.1.Định hướng quy hoạch phục hồi và phát triển vùng sinh thái đất ngập mặn ven  biển

Để ngăn ngừa hậu quả biến đổi khí hậu gắn kết bảo vệ các hệ sinh  thái tự nhiên, đa  dạng sinh học và nguồn lợi tự nhiên vùng đất ngập mặn cửa sông ven biển Tiền Giang Dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030” đã được UBND tỉnh Tiền Giang phê duyệt (2014) đã nêu các các định hướng quy hoạch phục hồi hệ sinh thái ven biển như sau:
1. Xác định các dải bần ven sông Trà, sông Vàm Cỏ, sông Cửa Tiểu, sông Cửa Đại và dải  rừng ngập mặn từ Gia Thuận – Phú Tân là rừng phòng hộ môi trường nghiêm  ngặt.
2. Tại vùng ven biển Gò Công Đông cần bảo tồn và mở rộng dải rừng ngập mặn ngoài đê kéo dài từ xã Tân Phước đến Tân Thành nhằm phục hồi hệ sinh thái tự nhiên và ngăn ngừa tác động gây xói lở bờ do sóng biển, nhất là trong điều kiện gia tăng tác động do biến đổi khí 
hậu. Đảm bảo đến năm 2020 khoảng 50% diện tích bãi bồi ngoài đê được phục hồi rừng ngập mặn.
3. Nghiên cứu và xây dựng Khu bảo tồn sinh thái ngập mặn ven biển Tiền Giang, lấy giới hạn là rạch Bà Tú - xã Phú Tân ra biển, bao gồm toàn bộ cồn Ngang và di tích pháo đài Cửa Tiểu – có thể đặt tên là Khu bảo tồn sinh thái cồn Ngang – Tiền Giang. Khu này bao gồm   diện tích có độ rộng khoảng 500 m – 1000 m kéo dài suốt chiều dài bờ biển khoảng 8000 m ở xã Phú Tân. Tổng diện tích khu bảo tồn có thể lên đến trên 600 ha (hình 5). Đây là dự án có giá trị cao về bảo tồn thiên nhiên và ứng phó biến đổi khí hậu, có tính khả thi, do vậy cần  được triển khai trong giai đoạn 2015 -2020 và các năm tiếp  theo.

           

Hình 5: Khu vực đề xuất quy hoạch “khu bảo tồn sinh thái ngập mặn ven biển Tiền Giang”là cồn Ngang, xã Phú Tân - huyện Tân Phú  Đông.

Nguồn: Trích từ “Quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội huyện Tân Phú Đông đến năm  2020”

         

Hình 6: Rừng ngập mặn vốn rất phát triển ở xã Phú Tân nay chỉ còn các đám dừa nước (Nipa fruticans)(trái); Ranh giới do “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”đề xuất đối với quy hoạch Khu bảo tồn sinh thái ngập mặn ven biển Tiền Giang tại xã Phú Tân - huyện Tân Phú Đông: từ cầu N4 ra đến biển  (phải).


4. Triển khai dự án gây bồi tại vùng bãi triều kéo dài từ Gò Công Đông đến Tân Phú Đông nhằm mở rộng đất rừng phòng.
5. Triển khai dự án gây bồi vùng xói lở ở xã Tân Điền tạo điều kiện cho cây  mắm tiến ra  biển, trồng đước đôi sau lưng dải mắm hiện có để bảo vệ vùng đất ngoài đê Tân  Điền.
Cơ quan thực hiện các chương trình dự án về phục hồi và phát triển các hệ sinh  thái  biển là Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn tỉnh Tiền Giang phối hợp với UBND các huyện Gò Công Đông, Tân Phú Đông, Sở Tài nguyên và Môi trường, Sở Khoa học và Công nghệ, Sở Kế hoạch và Đầu tư và các đơn vị khoa học, công nghệ liên quan. Loại hình chương trình trên sẽ được UBND tỉnh và các tổ chức quốc tế quan tâm hỗ trợ về kỹ thuật và tài    chính.
Bảo vệ tài nguyên sinh vật, đa dạnG sinh học gắn kết ứng phó biến đổi khí hậu là công tác cần có sự quan tâm, chỉ đạo của lãnh đạo tỉnh và cần nguồn lực lớn về nhân lực, tài chính và khoa học. Tuy nhiên, đây là một trong các công tác quan trọng bậc nhất trong nhiệm vụ  bảo vệ môi trường của tỉnh Tiền Giang trong giai đoạn 2015 -  2030.


KẾT LUẬN

Từ kết quả nghiên cứu nêu trên có thể đưa ra một số kết luận như  sau:
1.Các hệ sinh thái rừng ngập nước ở Tiền Giang nói chung và rừng ngập mặn ven biển có ý nghĩa rất quan trọng không chỉ về bảo tồn đa dạng sinh học mà còn về bảo vệ môi trường, ứng phó biến đổi khí hậu, phát triển kinh tế.
2.Phân vùng môi trường là phươngpháp quan trọng tạo cơ sở khoa học và thực tiễn cho bảo vệ môi trường toàn tỉnh Tiền Giang nói chung và lập quy hoạch phục hồi, phát triển các    hệ sinh thái đất ngập mặn ven biển nói riêng.
3.Trên cơ sở phân vùng và xác định giá trị về môi trường và đa dạng sinh học của vùng ven biển phía Đông các tác giả đã nêu định hướng các chương  trình phục hồi và phát triển   giải rừng ngập mặn ven biển huyện Gò Công Đông, đặc biệt là đã đề xuất lập khu bảo tồn rừng ngập mặn ở huyện Tân Phú Đông.
4.Các định hướng quy hoạch này có ý nghĩa lớn về môi trường, có cơ sở khoa học và thực tiễn nên được tỉnh Tiền Giang chấp nhận đưa vào chương trình đầu tư bảo vệ môi trường ven biển của tỉnh, gắn kết bảo tồn đa dạng sinh học với ứng phó biến đổi khí  hậu.


TÀI LIỆU THAM KHẢO

1.  Đặng Trung Thuận, Báo cáo chuyên đề: Phân vùng chức năng môi trường tỉnh Tiền Giang, trong Dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”, 06/2013.
2.  UBND tỉnh Tiền Giang - Sở Tài nguyên và Môi trường, Báo cáo dự án “Quy hoạch bảo   vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”, chủ nhệm: Lê Trình, 03/2014.
3.  Nguyễn Lưu Phương, Báo cáo chuyên đề: Các hệ sinh thái tự nhiên ở tỉnh  Tiền Giang  trong Dự án “Quy hoạch bảo vệ môi trường tỉnh Tiền Giang đến năm 2020, tầm nhìn đến 2030”, 03/2013.


Tác giả bài viết: Lê Trình, Đặng Trung Thuận, Nguyễn Lưu Phương - Viện Khoa học môi trường và Phát triển (VESDEC)

Nguồn tin: vesdec.com.vn

Tổng số điểm của bài viết là: 0 trong 0 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin mới hơn

Những tin cũ hơn

 

HỖ TRỢ

1
VIỆN TRƯỞNG
Name: PGS.TS. Lê Trình
Phone: 08.38489284 (Ext: 2)

TP. HCM
Name: 179 Bạch Đằng, P.2, Quận Tân Bình
Phone: 08.38489284 (Ext: 4)

HÀ NỘI
Name: B19, Lô 9, Khu đô thị mới Định Công, Quận Hoàng Mai
Phone: 04. 22133668

BẢO TỒN TÊ GIÁC

ENV

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 24


Hôm nayHôm nay: 222

Tháng hiện tạiTháng hiện tại: 3782

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập: 4377732