16:58 ICT Thứ năm, 26/11/2020

mua lan su rong

GIỚI THIỆU

TIN TỨC

Trang chủ » Tin tức » Tin VESDEC

TÓM TẮT KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU ĐÁNH GIÁ MÔI TRƯỜNG CHIẾN LƯỢC (ĐMC) QUY HOẠCH VÙNG ĐỒNG BẰNG SÔNG CỬU LONG THỜI KỲ 2021 – 2030, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2050

1.  Tóm tắt về sự cần thiết và hoàn cảnh ra đời của Quy hoạch vùng 
Nghị quyết 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về Phát triển bền vững đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL) thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH) nêu rõ: “ĐBSCL là vùng đất rộng lớn chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, mạng lưới sông, kênh, rạch dày đặc; có lợi thế về phát triển nông nghiệp, công nghiệp thực phẩm, du lịch, năng lượng tái tạo; là trung tâm sản xuất nông nghiệp lớn nhất của Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu; có vị trí thuận tiện trong giao thương với các nước ASEAN và Tiểu vùng sông Mêcông.

Trong bối cảnh toàn cầu hóa, hội nhập quốc tế, ĐBSCL có nhiều cơ hội phát triển nhưng cũng đang đối mặt với nhiều thách thức do đây là vùng đất mẫn cảm với thay đổi của tự nhiên. BĐKH và nước biển dâng (NBD) diễn ra nhanh hơn dự báo, gây ra nhiều hiện tượng thời tiết cực đoan, ảnh hưởng đến sinh kế và đời sống của người dân. Việc khai thác tài nguyên nước trên thượng nguồn châu thổ, đặc biệt là xây dựng đập thủy điện đã làm thay đổi dòng chảy, giảm lượng phù sa, suy giảm nguồn lợi thủy sản, xâm nhập mặn sâu vào nội vùng, tác động tiêu cực đến phát triển kinh tế - xã hội của vùng. Mặt trái từ hoạt động phát triển kinh tế với cường độ cao ở nội vùng bộc lộ ngày càng gay gắt, gây nhiều hệ lụy như: ô nhiễm môi trường, mất cân bằng sinh thái nghiêm trọng, sụt lún đất, suy giảm mực nước ngầm, xâm thực bờ biển, nhiều diện tích rừng tự nhiên, nhất là rừng ngập mặn, rừng tràm, rừng phòng hộ bị chặt phá, chuyển đổi sang mục đích sử dụng khác hoặc bị suy thoái nặng nề. Bên cạnh đó, việc khai thác bùn cát quá mức, xây dựng nhà cửa và hạ tầng sát bờ sông, kênh, rạch làm gia tăng nguy cơ sạt lở.
Trong khi đó, công tác quản lý nhà nước trong một số lĩnh vực, phân cấp giữa địa phương và trung ương còn chồng chéo, thiếu sự phối hợp chặt chẽ; các cơ chế điều phối phát triển vùng ĐBSCL chưa phát huy tác dụng…. 
Thực tế đó đòi hỏi có tầm nhìn mới, định hướng chiến lược, các giải pháp toàn diện, căn cơ, đồng bộ, huy động tối đa các nguồn lực và sự tham gia của các thành phần kinh tế để phát triển bền vững ĐBSCL”.
Thực hiện Luật Quy hoạch số 21/2017/QH14 và Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17 tháng 11 năm 2017 của Chính phủ về phát triển bền vững vùng ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, Bộ Kế hoạch và Đầu tư (KH&ĐT) được Chính phủ giao tổ chức lập Quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (để ngắn gọn, trong báo cáo ĐMC này được viết tắt là “Quy hoạch vùng ĐBSCL hoặc Quy hoạch Vùng”.
Thực hiện nhiệm vụ được giao, trong khuôn khổ tiểu dự án 6 thuộc hợp phần 1 dự án MD-ICRSL (WB9), Bộ KH&ĐT đã tổ chức đấu thầu quốc tế và lựa chọn đơn vị tư vấn xây dựng nhiệm vụ lập quy hoạch vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 là liên danh HaskoningDHV (Hà Lan) & GIZ (Đức).
2.  Tổ chức nghiên cứu ĐMC
Đặc điểm nổi bật của quá trình nghiên cứu ĐMC này là được tiến hành gần như đồng thời với nghiên của lập quy hoạch, nên các vấn đề môi trường và xã hội của ĐMC được lồng ghép hoàn toàn vào quá trình nghiên cứu, lập Quy hoạch Vùng. Vì vậy tổ chức thực hiện ĐMC này có nhiều điểm tích cực nhưng cũng nhiều thách thức so với các ĐMC được lập sau khi quy hoạch đã được dự thảo.
Trong hình thức lồng ghép này các chuyên gia môi trường, xã hội của GIZ (Đức) và các chuyên gia quy hoạch (HaskoningDHV, Hà Lan) cùng đồng thời thực hiện nhiệm vụ của mình theo nhiệm vụ đã được Bộ KH&ĐT giao qua các điều khoản tham chiếu.
Tổ tư vấn ĐMC gồm 4 chuyên gia môi trường và xã hội Việt Nam (PGS.TS Lê Trình, PGS.TS Phạm Hồng Nhật, TS Huỳnh Ngọc Tuyết, ThS Nguyễn Minh Châu) và 3 chuyên gia quốc tế (Jiri Dusik, Rens Hasman, Koos Neefless) do Lê Trình (VESDEC) làm tổ trưởng và một số cán bộ của VESDEC hỗ trợ.
Nghiên cứu ĐMC được thực hiện theo đúng yêu cầu về nội dung và cấu trúc của Mẫu 1A, Phụ lục 1, Thông tư 25/2019/TT-BTNMT đồng thời đáp ứng các chính sách an toàn môi trường và xã hội của Ngân hàng Thế giới (WB). Sau 7,5 tháng triển khai, giữa tháng 10/2020 Tổ Tư vấn ĐMC đã hoàn thành dự thảo báo cáo chính và tập phụ lục với rất nhiều dự báo, đánh giá định lượng, bán định lượng diễn biến 8 vấn đề môi trường và xã hội chính đã được lựa chọn (suy giảm tài nguyên nước; suy thoái tài nguyên đất; gia tăng xâm nhập mặn; suy thoái tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học; gia tăng chất thải; gia tăng ô nhiễm; tác động xã hội và tác động tài nguyên văn hóa vật thể) theo các Phương án “Không thực hiện” và “Thực hiện Quy hoạch Vùng” với các phương hướng phát triển và trên 140 dự án đề xuất đều được đánh giá.
3. Các quan điểm và mục tiêu chính về bảo vệ môi trường của Quy hoạch Vùng
Các định hướng trong Quy hoạch vùng ĐBSCL luôn gắn kết phát triển kinh tế với bảo vệ tài nguyên sinh vật, chất lượng môi trường và an sinh xã hội, thích ứng biến đổi khí hậu.
a.  Các quan điểm và phương hướng chính về môi trường
1. Thúc đẩy sử dụng bền vững và có khả năng phục hồi tài nguyên nước xoay quanh vấn đề “sống chung với lũ, nước lợ và nước mặn”.
2. Giảm khai thác nước ngầm và khai thác trầm tích (cát lòng sông) quá mức.
3. Khuyến khích hệ thống tự nhiên và nhân tạo có khả năng chống chịu tốt hơn, có khả năng thích ứng tốt hơn với tác động của biến đổi khí hậu và phát triển ở thượng nguồn.
4. Tăng cường quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường (nước, đất và không khí).
5. Khôi phục và phát huy đa dạng sinh học trong các hệ sinh thái trên cạn và dưới nước.
6. Cải thiện tính bền vững của sản xuất và chất lượng môi trường của sản phẩm.
b. Các mục tiêu chính về môi trường
Về bảo vệ và cải thiện chất lượng môi trường, quản lý chất thải:
-  Giảm thiểu và kiểm soát ô nhiễm;
-  Hạn chế khai thác nước ngầm và cung cấp các nguồn nước thay thế;
-  Khuyến khích các thực hành sử dụng đất và nước bền vững và lành mạnh với môi trường;
-  Thiết lập hệ thống giám sát chất lượng nước hiệu quả và quản lý sự cố;
-  Cải thiện chất lượng không khí bằng cách đẩy mạnh quá trình chuyển đổi năng lượng;
-   Xây dựng chiến lược quản lý chất thải rắn và chất thải nguy hại của vùng;
-   Phát triển các cơ sở quản lý chất thải rắn liên tỉnh;
-  Thực hiện đúng các chỉ tiêu về xử lý CTR, chất thải nguy hại, nước thải;
-   Chất lượng nước ở các kênh và sông đạt giá trị giới hạn cột A2 theo QCVN tại 50% các điểm quan trắc (đến năm 2030).
-   90% dân số ở các đô thị chính ở các tỉnh ven biển sẽ được cung cấp nguồn nước sạch cho sinh hoạt quanh năm dựa vào nguồn nước mặt.
Về bảo vệ tài nguyên sinh vật, đa dạng sinh học, bảo tồn thiên nhiên và cảnh quan sinh thái:
-  Xây dựng quy hoạch bảo tồn thiên nhiên trên cạn của vùng;
-  Xây dựng quy hoạch bảo tồn thiên nhiên biển cấp vùng;
-  Phát triển một cách tiếp cận có hệ thống để phát triển rừng trong khu vực
-  Thiết lập quản lý tổng hợp bền vững vùng ven biển
-  Phát triển rừng tràm ở Cà Mau - Kiên Giang
-  Phát triển rừng ở vùng thượng đồng bằng sông Cửu Long
-  Tỷ lệ che phủ rừng tăng từ 4,3% vào năm 2020 lên 6% vào năm 2030 và 9% vào năm 2050.
Về phòng ngừa, ứng phó tai biến thiên nhiên, thích ứng NĐKH:
-  Tăng cường hệ thống đê điều, cơ sở hạ tầng phòng ngừa và ứng phó với thiên tai.
-  Tăng cường quản lý thích ứng.
-  Thiết lập các tiêu chuẩn thiết kế các biện pháp thích ứng với BĐKH.
-  Tăng cường năng lực quản lý nước và quản lý rủi ro thiên tai của cơ sở.
-  Nâng cao nhận thức cộng đồng về tác động của thiên tai và xu hướng.

Bên trái: Xâm nhập mặn là một trong các vấn đề môi trường chính ở ĐBSCL: Sơ đồ xâm nhập mặn vào mùa khô ở ĐBSCL 1998 – 2016 và dự báo 2020; Bên phải: Sụt lún đất là vấn đề rất nghiêm trọng ở ĐBSCL: các vùng bị sụt lún lớn.                               
Về phòng chống xói mòn và ngập triều:
-  Giảm nguy cơ bị xói mòn và lũ lụt ven biển.
-  Phối hợp giảm thiểu hiệu quả xói mòn bờ sông và đưa ra các giải pháp dựa vào thiên nhiên.
-  Điều tiết việc khai thác cát và thúc đẩy việc tái sử dụng có lợi các trầm tích nạo vét.
-  Quản lý tổng hợp vùng ven biển.
4. Nội dung nghiên cứu ĐMC
Đây là 1 trong các nghiên cứu ĐMC được thực hiện đồng thời với nghiên cứu lập Quy hoạch Vùng. Vì vậy, Tổ Tư vấn ĐMC ngay từ đầu đã đề xuất các định hướng BVMT, bảo tồn tài nguyên sinh thái, ĐDSH, ứng phó BĐKH. Tổ Quy hoạch đã tiếp thu, xây dựng các phương hướng phát triển gắn với BVMT, thích ứng BĐKH và cung cấp cho Tổ ĐMC góp ý và thực hiện đánh giá diễn biến các vấn đề môi trường và xã hội.
Kết quả nghiên cứu ĐMC được thể hiện qua báo cáo ĐMC (báo cáo chính 700 trang, tập phụ lục 150 trang) theo yêu cầu về cấu trúc và nội dung của Mẫu 1A, Phụ lục 1 trong TT25/2019/TT-BTNMT. Báo cáo đã nêu tóm tắt về cơ sở pháp lý, kỹ thuật và tổ chức thực hiện ĐMC; tóm tắt nội dung Quy hoạch Vùng; đặc điểm môi trường tự nhiên và KT-XH của Vùng; các vấn đề môi trường và xã hội chính được lựa chọn sau khi tham vấn nhiều chuyên gia; dự báo, đánh giá định lượng và bán định lượng (với nhiều tính toán, so sánh) các tác động đến các vấn đề môi trường chính (tác động đến tài nguyên nước, xâm nhập mặn, tài nguyên đất, tài nguyên sinh vật, ĐDSH, phát thải, ô nhiễm môi trường, tác động xã hội) do các quy hoạch đã được Chính phủ phê duyệt theo PA ‘‘Không thực hiện Quy hoạch Vùng’’ và các tác động, kể cả tác động tích hợp theo các phương hướng và trên 140 dự án theo  ‘Quy hoạch Vùng’’; tác động do BĐKH, tính toán phát thải khí nhà kính và khả năng hấp thụ cacbon; tác động liên vùng và xuyên biên giới; đề xuất các giải pháp quản lý và công nghệ giảm thiểu các tác động tiêu cực đến 8 vấn đề môi trường và xã hội chính; ứng phó BĐKH…theo các kinh nghiệm quốc tế, trong nước tốt nhất; lập chương trình quản lý môi trường và các hệ thống quan trắc môi trường vật lý, sinh học cho toàn Vùng; tổ chức và kết quả 3 đợt tham vấn; kết luận và kiến nghị.
 
ĐBSCL không thể phát triển bền vững nếu không bảo tồn và phát triển các vùng sinh thái đất ngập nước (wetland) có giá trị đặc biệt: vùng sinh thái rừng ngập mặn ven biển (ảnh trái) và vùng sinh thái rừng tràm nội địa (ảnh phải).

Tài nguyên sinh vật đặc sắc ở ĐBSCL: không chỉ giá trị về ĐDSH mà còn kinh tế, dịch vụ sinh thái: Ảnh trái: Cá tra dầu ((Pangasianodon gigas) có thể đạt 300kg; Ảnh phải: Khu kinh tế và du lịch Phú Quốc chỉ có thể phát triển bền vững nếu không tiếp tục xâm phạm VQG Phú Quốc (hoạt động vi phạm: mở đường xuyên rừng nguyên sinh vùng lõi VQG Phú Quốc)
5. Kết luận chung về sự phù hợp và chưa phù hợp hoặc mâu thuẫn của các mục tiêu của Quy hoạch Vùng với các mục tiêu về bảo vệ môi trường
Qua kết quả từ 7 chương của báo cáo ĐMC có thể nêu 1 số kết luận chính:
1. Mục tiêu của Dự án Quy hoạch Vùng ĐBSCL là “Tăng cường năng lực, hiệu suất và hiệu quả quản lý phát triển bền vững ở ĐBSCL nhằm phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh và tài nguyên của vùng và giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh biến đổi khí hậu” là hoàn toàn phù hợp với các quan điểm của Nhà nước Việt Nam thể hiện qua các định hướng của Nghị quyết số 120/NQ-CP “phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu”.
2. Các quan điểm dưới đây đã được áp dụng trong quá trình xây dựng Quy hoạch Vùng ĐBSCL là hoàn toàn tuân thủ Luật BVMT, Luật ĐDSH, Luật Tài nguyên nước, Luật Lâm nghiệp và các quy định pháp lý khác của Việt Nam và NQ120/NQ-CP:
a.  Xây dựng và thực hiện Quy hoạch Vùng theo tầm nhìn, mục tiêu, quan điểm chỉ đạo, chủ trương và định hướng phát triển vùng ĐBSCL được đưa ra trong Nghị quyết số 120/NQ-CP về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu, trong đó chú trọng thay đổi tư duy phát triển, chuyển từ sản xuất dựa vào tài nguyên thiên nhiên sang sản xuất dựa vào ứng dụng công nghệ và đổi mới sáng tạo; biến thách thức thành cơ hội phát triển; tuân theo quy luật tự nhiên; phát triển vùng phù hợp với điều kiện thực tế; và lựa chọn mô hình thích ứng với các điều kiện tự nhiên.
b. Đảm bảo phát triển dựa trên tăng trưởng xanh, nhấn mạnh tầm quan trọng của việc bảo tồn đa dạng sinh học và hệ sinh thái tự nhiên; đảm bảo sự cân bằng giữa phát triển và bảo tồn, tăng cường liên kết ngành và tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; và phát huy tiềm năng, lợi thế của vùng.
3. Mục tiêu tổng quát về phát triển ĐBSCL trong Quy hoạch Vùng là “nhằm đạt được 17 mục tiêu chung và 115 mục tiêu cụ thể của Việt Nam được quy định trong “Kế hoạch hành động quốc gia thực hiện chương trình Nghị sự 2030 vì sự phát triển bền vững” được ban hành theo Quyết định số 622/QĐ-TTg ngày 10/05/2017 của Thủ tướng Chính phủ” là hoàn toàn phù họp với các mục tiêu phát triển bền vững của Chính phủ Việt Nam.
4.  Các mục tiêu cụ thể về môi trường và tài nguyên thiên nhiên dưới đây do Quy hoạch Vùng nêu ra hoàn toàn phù hợp với các yêu cầu của Luật BVMT, Luật ĐDSH, Luật Tài nguyên nước, Luật Lâm nghiệp, các quy định pháp lý khác của Việt Nam và NQ120/NQ-CP:
a. Khuyến khích sử dụng bền vững tài nguyên nước theo phương châm “sống chung với nước ngọt, nước lợ và nước mặn”.
b.  Giảm khai thác nước ngầm và khai thác cát lòng sông quá mức.
c.  Khuyến khích hệ thống tự nhiên và nhân tạo thích ứng tốt hơn với tác động của BĐKH và phát triển ở các quốc gia thượng nguồn.
d.  Tăng cường quản lý và kiểm soát ô nhiễm môi trường (nước, đất và không khí).
đ.  Phục hồi đa dạng sinh học hệ sinh thái trên cạn; sông và biển.
e.  Thúc đẩy sản xuất bền vững và chất lượng môi trường của sản phẩm.
Không có định hướng hoặc dự án nào do Quy hoạch Vùng đề xuất là chưa phù hợp hoặc mâu thuẫn với các quy định pháp luật và quan điểm của Nhà nước Việt Nam và các chính sách bảo vệ của các nhà tài trợ quốc tế.
 
 
Là vùng chiếm 12% diện tích, 19% dân số cả nước, là trung tâm nông nghiệp lớn nhất Việt Nam: đóng góp 50% sản lượng lúa, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản và 70% các loại trái cây của cả nước; 95% lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng cá xuất khẩu nhưng hiện nay ĐBSCL vẫn là vùng nghèo so với 1 số vùng trong nước, cơ sở hạ tầng giao thông, đô thị, nông thôn, năng lượng…chưa được đầu tư xứng đáng. Ảnh trái: thôn ấp đơn sơ, hiền hòa, nhà chưa được “gạch hóa”, điển hình ở miền Tây; ảnh phải: 1 góc TP Mỹ Tho bên sông Tiền, lớn thứ 3 trong vùng (sau Cần Thơ, Long Xuyên). Hy vọng vùng đất trù phú này sẽ cất cánh nếu Quy hoạch Vùng được triển khai thành công.
6.  Mức độ tác động tích cực và tiêu cực của Quy hoạch Vùng lên môi trường và tác động của biến đổi khí hậu
6.1. Mức độ tác động tích cực và tiêu cực của Quy hoạch Vùng lên môi trường
a. Tác động tích cực
Do mục tiêu của Quy hoạch Vùng là “Tăng cường năng lực, hiệu suất và hiệu quả quản lý phát triển bền vững ở ĐBSCL nhằm phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh và tài nguyên của vùng và giảm thiểu rủi ro trong bối cảnh biến đổi khí hậu” nên Quy hoạch Vùng đã đề xuất các phương hướng phát triển ngành, lĩnh vực và các dự án đầu tư theo phương châm “Sống chung với mặn – lợ; sống chung với lũ”, “thích ứng tác động do BĐKH và phát triển thượng lưu”. Cụ thể:
(i)  Tập trung phát triển các ngành có lợi thể nhất: nông nghiệp, thủy sản, cây ăn trái nhưng giảm diện tích lúa; tăng diện tích và sản lượng thủy sản nước lợ;
(ii)  Chuyển đổi phần lớn các dự án điện than thành điện khí tự nhiên (LNG) và tăng cường năng lượng tái tạo đồng thời với tăng nhanh công suất phát điện toàn vùng;
(iii)  Phát triển các hệ thống công trình thủy lợi (quản lý tài nguyên nước) phù hợp với ứng phó BĐKH;
(iv)  Tăng nhanh diện tích rừng; bảo tồn và phát triển các khu bảo tồn thiên nhiên;
(v)   Phát triển du lịch sinh thái, dịch vụ sinh thái.
Với các định hướng trên việc thực hiện Quy hoạch Vùng có các ưu điểm chính như sau (được minh chứng qua tính toán định lượng trong Chương Ba):
(i) Giảm rõ rệt nhu cầu sử dụng nước ngọt do giảm diện tích lúa (đã tính toán đưa ra số liệu chi tiết so sánh nhu cầu sử dụng nước: có thể giảm đến gần 10% nhu cầu nước ngọt cho canh tác). Đây là một trong các ưu điểm lớn nhất của Quy hoạch Vùng, góp phần giải quyết sức ép do thiếu nước ngọt cho canh tác, sinh hoạt từ đó góp phần hạn chế khai thác nước ngầm để giảm sụt lún đất.
(ii)  Giảm nhu cầu sử dụng hóa chất (thuốc) BVTV, phân hóa học; giảm phát thải bao bì chứa hóa chất BVTV dù không nhiều (đã tính toán đưa ra số liệu chi tiết so sánh nhu cầu sử dụng hóa chất BVTV).
(iii)   Giảm rất đáng kể ô nhiễm không khí do giảm phát thải bụi, khí độc (đã tính toán đưa ra số liệu chi tiết về phát thải bụi, khí độc, so sánh các phương án); giảm khoảng 3 lần lượng chất thải rắn (tro, xỉ) do giảm phần lớn các dự án điện than. Nghiên cứu cho thấy: nếu các dự án năng lượng ở Long An, Tiền Giang vẫn sử dụng than: sẽ gây ô nhiễm không khí liên vùng: đến TP Hồ Chí Minh và Đông Nam Bộ, ngược lại nếu chuyển các dự án này và phần lớn các dự án điện than thành LNG thì sẽ không gây tác động tích hợp ô nhiễm không khí trong vùng và liên vùng (đã dự báo tác động tích hợp do các trung tâm điện lực chạy than bằng mô hình hóa, đưa ra số liệu chi tiết về phát thải bụi, khí độc, vùng bị ô nhiễm theo các phương án).
(iv)  Giảm đáng kể phát thải khí nhà kính (KNK) do giảm phần lớn các dự án điện than, tăng dự án điện khí và năng lượng tái tạo trong khi công suất phát tăng nhiều; giảm diện tích đất lúa cũng góp phần giảm khí nhà kính nhưng không nhiều (đã tính toán đưa ra số liệu chi tiết về phát thải khí nhà kính từ nhiều nguồn, theo IPCC 2019; so sánh các phương án).
(v)  Tăng khả năng hấp thụ khí nhà kính và lưu trữ cacbon do tăng diện tích rừng, nhất là rừng ngập mặn (đã tính toán đưa ra số liệu chi tiết về khả năng hấp thụ khí nhà kính và lưu trữ cacbon, so sánh các phương án).
(vi)  Tăng cường hệ thống bảo vệ các đô thị, nông thôn, khu sản xuất khỏi tác hại do lũ lụt, sạt lở, nước biển dâng nhờ cải thiện các công trình quản lý tài nguyên nước.
(vii)   Cuối cùng, tích hợp các ưu điểm trên: vùng ĐBSCL sẽ phát triển bền vững, tăng GRDP, tăng mức sống cho dân chúng, giảm thiểu xuất cư, giảm ô nhiễm không khí, tăng đa dạng sinh học và thích ứng tốt hơn với hậu quả BĐKH và tác động từ thượng lưu.
b. Tác động tiêu cực
(i)  Gia tăng chất thải và tải lượng ô nhiễm:
Nuôi thủy sản (tôm nước lợ) thâm canh là ngành phát sinh nước thải lớn nhất trong các ngành kinh tế ở ĐBSCL. Vì vậy, tăng diện tích nuôi tôm nước lợ sẽ gia tăng chất thải rất lớn (đã tính toán đưa ra số liệu chi tiết về lưu lượng nước thải và tải lượng BOD trong nước thải, so sánh các phương án).
Theo ước tính ở Chương Ba khi “Thực hiện Quy hoạch Vùng”: vào năm 2030: tổng lưu lượng (m3/ngày) các loại nước thải và tổng tải lượng BOD trong nước thải hàng ngày (tấn/ngày) sẽ cao hơn so với phương án “Không thực hiện Quy hoạch Vùng” tương ứng là 1,3 lần và gần 1,1 lần, chưa kể lượng bùn đáy cũng tăng đáng kể. Gia tăng chất thải chủ yếu do tăng lượng nước thải thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm, trong khi nước thải, chất thải rắn từ các nguồn đô thị, công nghiệp, du lịch giữa 2 phương án là như nhau (do Quy hoạch Vùng không điều chỉnh các chỉ tiêu về phát triển các ngành này).
(ii)  Nguy cơ tác động sinh thái và gia tăng ô nhiễm nước do các dự án lập đê bao biển và công trình kiểm soát mặn ở các tỉnh ven biển:
- Việc lập các đê biển bao kín và vững chắc là tốt cho ứng phó sóng, nước biển dâng nhưng sẽ có thể gây tác hại đến phát triển rừng ngập mặn do ngăn cản dòng chảy tự nhiên cản trở quá trình trao đổi nước sông – biển; điều này sẽ tác hại mục tiêu phát triển giải rừng ngập mặn rộng 500m ven Biển Đông và Biển Tây.
-  Ngoài ra, khả năng ô nhiễm nguồn nước sông, kênh khu vực bên trong các công trình kiểm soát mặn và đê biển và tác hại hệ sinh thái nước sẽ càng tăng do ngăn dòng các sông, kênh, cản trở lưu thông dòng chảy tự nhiên. Điều này đã được minh chứng rõ ở ĐBSCL hiện nay. Hậu quả là tác động xã hội sẽ gia tăng.
Đây sẽ là các tác động tiêu cực rất lớn cần được xem xét, điều chỉnh quy hoạch và đánh giá tác động môi trường đối với các dự án phát triển thủy lợi,thủy sản, lập đê biển trước khi cho phép triển khai.  
6.2.  Tác động của biến đổi khí hậu
a.  Tác động do hậu quả BĐKH đến quá trình thực hiện Quy hoạch Vùng
Dù có thực hiện tốt các định hướng, giải pháp thích ứng BĐKH nhưng chỉ có thể giảm thiểu một phần hậu quả BĐKH vì BĐKH ngày càng lớn, thế giới và Việt Nam không thể kiểm soát yếu tố tự nhiên này.
Từ các thông tin, số liệu ở các chương trên nghiên cứu ĐMC nhận định: trong quá trình thực hiện Quy hoạch Vùng các dự án trong hầu hết các lĩnh vực dưới đây sẽ bị tác động do BĐKH ở mức lớn đến nghiêm trọng:
-  Các dự án phát triển nông nghiệp nhất là canh tác lúa, rau màu, cây ăn trái: do giảm lưu lượng nước ngọt, tăng khô hạn và nhiệt độ;
-  Các dự án nuôi thủy sản ven biển: do mất diện tích, tăng độ mặn vì ngập nước biển;
-  Các dự án thủy lợi (phát triển tài nguyên nước), nhất là các dự án lập các khu vực trữ nước ngọt: do giảm lưu lượng nước ngọt từ thượng nguồn vì hậu quả BĐKH kết hợp các công trình sử dụng nước ở thượng lưu;
-  Các dự án phát triển trung tâm đầu mối, đô thị, công nghiệp, du lịch: do giảm lưu lượng nước ngọt, tăng khô hạn, nhiệt độ và tăng dịch bệnh;
-  Các dự án phát triển giao thông đường bộ: do ngập lũ, tai biến thiên nhiên và tăng nhiệt độ;
-  Các dự án phát triển rừng, bảo tồn thiên nhiên: do mất diện tích vì ngập nước biển, sạt lở bờ biển; thay đổi sinh cảnh.
b. Tác động do thực hiện Quy hoạch Vùng đến BĐKH
(i)  Gia tăng phát thải KNK kính so với hiện nay: 
Do gia tăng công suất phát nhiều lần so với hiện nay: vào năm 2030 dù đã chuyển phần lớn các dự án điện than sang điện khí: tổng lượng KNK (tính theo CO2e) của các ngành lĩnh vực ở ĐBSCL tối thiểu có thể trên 154 triệu tấn, cao hơn hiện nay. Ngành năng lượng theo Quy hoạch Vùng dù đã giảm khá lớn KNK nhờ phần lớn được chuyển sang LNG vẫn là nguồn phát thải KNK lớn nhất do tổng công suất phát tăng cao và điện khí cũng phát thải KNK lớn dù ít hơn điện than. Tiếp theo là phát thải KNK từ nhiên liệu cho các mục đích khác ngoài phát điện (công nghiệp, giao thông, dịch vụ, sinh hoạt…); các hoạt động nông nghiệp cũng đóng góp khá lớn. Các nguồn khác như sử dụng đất, bón phân, đốt ruộng… phát thải KNK không đáng kể. Vào năm 2050 tổng lượng khí nhà kính theo CO2e phát thải ở ĐBSCL có thể tăng 1,45 lần so với năm 2030.
(ii)  Gia tăng hấp thụ khí CO2 và lưu trữ cacbon do gia tăng diện tích và chất lượng rừng, góp phần hạn chế tác động đến BĐKH do phát thải KNK: tổng lượng CO2 được các loại rừng ở ĐBSCL hấp thụ vào năm 2030 sẽ trên 93 triệu tấn; vào năm 2030 lượng cacbon được lưu trữ trong RNM ở ĐBSCL sẽ gần 73 triệu tấn. Các loại rừng khác và thảm thực vật cũng góp phần hấp thụ CO2 và lưu trữ cacbon. Đây là tác động tích cực.
6.3. Các tác động môi trường tiêu cực không thể khắc phục và nguyên nhân
Qua nghiên cứu, tính toán, dự báo ở Chương Ba có thể xác định các loại tác động dưới đây sẽ không thể khắc phục hoặc muốn khắc phục đến mức có thể chấp nhận được thì phải cần nguồn lực rất lớn:
(i)  Gia tăng xâm nhập mặn vào sâu nội địa: vì đây là hiện tượng tự nhiên, mức độ ngày càng trầm trọng;
(ii)  Gia tăng khô hạn: vì đây là hiện tượng tự nhiên, mức độ ngày càng trầm trọng;
(iii)  Biến động lưu lượng dòng chảy theo xu hướng tiêu cực;
(iv)  Suy giảm lượng phù sa, trầm tích đưa về ĐBSCL, dẫn đến gia tăng nguy cơ xói lở bờ sông.
Các vấn đề môi trường tự nhiên nêu trên đều có nguyên nhân là do tác động của BĐKH kết hợp với tác động tiêu cực của các công trình sử dụng nước của các nước thượng lưu. Vì vậy vùng ĐBSCL không thể tự khắc phục mà phải có các biện pháp thích ứng phù hợp.
7.  Hiệu quả của ĐMC          
7.1. Tóm tắt các điều chỉnh về phương án phát triển
Ban đầu Tư vấn lập Quy hoạch đã đưa 3 phương án ưu tiên phát triển Vùng ĐBSCL thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050 là:
- Phương án ưu tiên phát triển kinh tế: “Tối đa hóa tăng trưởng kinh tế dựa trên việc thúc đẩy lợi thế so sánh trong khu vực” (DO3)
-  Phương án ưu tiên bảo vệ môi trường và tài nguyên thiên nhiên (DO4)
-  Phương án ưu tiên phát triển xã hội (DO5): “Tối đa hóa phát triển xã hội và phát triển kinh tế theo hướng công bằng”.
Sau khi phân tích ưu, nhược điểm cả 3 phương án và tiếp thu các ý kiến của các bộ, ngành, địa phương và của Tư vấn ĐMC Tư vấn lập Quy hoạch Vùng đã kết hợp các ưu điểm của cả 3 phương án ưu tiên (DO3, DO4 và DO5) và lập Quy hoạch Vùng ĐBSCL thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 tuân theo nguyên tắc: “Hướng tới phát triển bền vững dựa trên sự cân bằng giữa ba trụ cột kinh tế, xã hội và môi trường” (chi tiết được nêu ở Chương Bốn).
7.2. Các điều chỉnh về các dự án thành phần
Các dự án đã được điều chỉnh theo quan điểm bảo tồn thiên nhiên, bảo vệ môi trường của Tổ Quy hoạch đã được Tổ Tư vấn ĐMC tính toán định lượng nhằm minh chứng việc điều chỉnh này là có lợi lớn về mặt môi trường và thích ứng BĐKH:
(i)  Điều chỉnh chuyển đổi toàn bộ trên 10 trung tâm điện than chưa được đầu tư sang sử dụng LNG nhằm giảm phần lớn lượng khí thải gây ô nhiễm không khí, giảm đáng kể phát thải khí nhà kính và giảm gần như toàn bộ phát sinh xỉ than (nếu không tính lượng khí nhà kính và xỉ than do các trung tâm điện lực hiện hữu hoặc đang xây dựng không do Quy hoạch Vùng đề xuất). Đến năm 2030, ĐBSCL sẽ phát triển thêm khoảng 11 nhà máy điện khí/LNG công suất lớn, với tổng công suất lắp đặt tối đa là 17.200 MW và một số công suất mới trong giai đoạn sau đó.
(ii)  Đề xuất bổ sung các dự án năng lượng tái tạo (điện mặt trời, điện gió, điện từ chất thải) nhằm tăng nguồn năng lượng và giảm thiểu ô nhiễm môi trường, phát thải khí nhà kính. Các nhà máy điện gió, mặt trời tại các tỉnh với công suất lắp tối đa dự kiến trong giai đoạn 2021- 2025 và xa hơn là 9.500 MW.
(iii)  Điều chỉnh diện tích canh tác lúa toàn vùng từ khoảng 1,9 triệu ha hiện nay và 1,6 triệu ha vào năm 2030 trong QĐ324/QĐ-TTg ngày 02/03/2020 của Thủ tướng Chính phủ  xuống 1.427.900 ha (vào năm 2030) và 1,36 triệu ha vào năm 2050: nhằm giảm nhu cầu nước ngọt cho toàn vùng để thích ứng với xâm nhập mặn và tác động do sử dụng nước ở thượng nguồn Mêcông. Đây là điều chỉnh lớn về tư duy và truyền thống trong sử dụng tài nguyên đất, nước và ứng phó BĐKH ở ĐBSCL.
(iv)  Điều chỉnh diện tích nuôi tôm thủy sản từ 811.000 ha hiện nay lên 900.000 ha (2030) và 950.000 ha (2050) nhằm tăng hiệu quả kinh tế và thích ứng xâm nhập mặn, ứng phó BĐKH.
(v)   Điều chỉnh diện tích rừng hiện nay chỉ chiếm 4,3% diện tích tự nhiên ĐBSCL lên 9,0% vào năm 2050 nhằm tăng hiệu quả bảo tồn thiên nhiên và ứng phó BĐKH.
Như vậy, ĐMC này có hiệu quả rất lớn trong lồng ghép quy hoạch phát triển kinh tế với bảo vệ môi trường, an sinh xã hội và thích ứng BĐKH ở vùng ĐBSCL.
                
Ảnh trái: Sơ đồ quy hoạch phát triển hạ tầng giao thông; Ảnh phải: Sơ đồ các khu bảo tồn được đề xuất trong Quy hoạch Vùng ĐBSCL
7.3.  Các vấn đề còn chưa có sự thống nhất giữa yêu cầu phát triển và bảo vệ môi trường
Qua dự báo, đánh giá các tác động đến các vấn đề môi trường và xã hội chính của các định hướng và dự án do Quy hoạch Vùng đề xuất và các giải pháp phát huy tác động tích cực, hạn chế, giảm thiểu tác động tiêu cực có thể nhận ra Quy hoạch Vùng có một số vấn đề còn chưa có sự thống nhất giữa yêu cầu phát triển và bảo vệ môi trường:
-  Mâu thuẫn giữa các công trình lập đê biển bao kín và mục tiêu, yêu cầu phát triển diện tích rừng ngập mặn từ 4,3 % hiện nay lên 9% vào năm 2050;
-  Mâu thuẫn giữa phát triển các công trình thủy lợi ven biển để kiểm soát xâm nhập mặn với yêu cầu kiểm soát ô nhiễm, bảo vệ chất lượng nước và tài nguyên sinh vật;
-  Mâu thuẫn giữa yêu cầu giảm thiểu phát sinh chất thải với định hướng tăng diện tích và sản lượng nuôi thủy sản, đặc biệt nuôi tôm nước lợ.
-   Mâu thuẫn giữa sử dụng đất cho phát triển kinh tế và lập hành lang đa dạng sinh học từ Cà Mau đến Cần Giờ (hiện nay không còn đất trống để lập hành lang này).
7.4. Các vấn đề cần được tiếp tục nghiên cứu
Để đạt mục tiêu phát triển bền vững vùng ĐBSCL, thích ứng BĐKH và giải quyết các mâu thuẫn trên, một số vấn đề môi trường cần được tiếp tục nghiên cứu sau ĐMC và trong quá trình thực hiện Quy hoạch Vùng:
(i) Tăng cường nghiên cứu, dự báo các tác động do BĐKH đến các vấn đề môi trường và xã hội chính ở ĐBSCL. Ưu tiên nghiên cứu dự báo xâm nhập mặn, ngập do nước biển dâng, sụt lún đất do gia tăng hiệu ứng BĐKH.
(ii) Tăng cường nghiên cứu, dự báo diễn biến thủy văn và vận chuyển ô nhiễm xuyên biên giới do phát triển thượng lưu.
(iii) Nghiên cứu dự báo, đánh giá chi tiết các tác động tiêu cực đến dòng chảy, sinh thái và ô nhiễm môi trường và tác động xã hội của các dự án lập đê biển và xây dựng công trình kiểm soát mặn.
(iv) Tiếp tục nghiên cứu phát triển các mô hình nuôi thủy sản sinh thái kết hợp bảo vệ rừng ngập mặn;
(v) Nghiên cứu các mô hình canh tác hữu cơ trong điều kiện “sống chung với mặn – lợ” vừa giảm sử dụng hóa chất, nước ngọt vừa đảm bảo năng suất. Hiện nay phương châm “sống chung với mặn – lợ” là ý tưởng hay nhưng không dễ thực hiện hiệu quả.
 Ngoài ra, cần nghiên cứu sâu các nhóm đề tài khoa học cơ bản sau:
(vi) Lập và triển khai các dự án, đề tài về nghiên cứu về nguyên nhân, cơ chế gây sụt lún đất, các khu vực có nguy cơ sụt lún cao và giải pháp giảm thiểu.
(vii) Lập và triển khai các dự án, đề tài về nghiên cứu điều tra, khảo sát, xác định, kiểm kê đa dạng sinh học vùng ĐBSCL. 
(viii) Lập và triển khai dự án: Nghiên cứu phân vùng môi trường vùng ĐBSCL phục vụ quy hoạch BVMT và phát triển KT- XH gắn kết bảo vệ môi trường, PTBV.
(ix) Lập và triển khai dự án: Nghiên cứu đánh giá sức chịu tải của các sông chính ở ĐBSCL, đề xuất phân vùng xả thải toàn vùng ĐBSCL.
(x)  Lập và triển khai các dự án, đề tài về nghiên cứu đánh giá tác động sinh thái và xã hội do các công trình thủy lợi và kiểm soát mặn chính ở ĐBSCL và đề xuất giải pháp khắc phục.
 
20/10/2020
Văn phòng VESDEC
 

Tác giả bài viết: VESDEC

Nguồn tin: -

Tổng số điểm của bài viết là: 30 trong 6 đánh giá
Click để đánh giá bài viết

Những tin cũ hơn

 

HỖ TRỢ

VIỆN TRƯỞNG
Name: PGS.TS. Lê Trình
Phone: 0982619336

TP. HỒ CHÍ MINH
Name: 179 Bạch Đằng, P.2, Quận Tân Bình
Phone: 028.38489284 (Ext: 4)

HÀ NỘI
Name: B19, Lô 9, Khu đô thị mới Định Công, Quận Hoàng Mai
Phone: 0982619336

BẢO TỒN TÊ GIÁC

ENV

THỐNG KÊ

Đang truy cậpĐang truy cập : 4

Hôm nayHôm nay : 318

Tháng hiện tạiTháng hiện tại : 12444

Tổng lượt truy cậpTổng lượt truy cập : 6710625